MÓN ĂN TINH THẦN

Châm ngôn mỗi ngày

Vinh quang lớn nhất đời người không phải là không bao giờ vấp ngã, mà là biết đứng dậy sau những lần vấp ngã.

THỜI GIAN ƠI HÃY NGỪNG TRÔI

CHUNG MỘT BÂÙ TRỜI

Tài nguyên dạy học

Bạn muốn nói chuyện cùng tôi?

GẶP TÔI KHI THẬT CẦN

phamlegialinh@yahoo.com.vn

Nghe nhạc- quà tặng từ "Những nhịp cầu tri thức"

Truyền Hình Trực Tuyến

ĐỌC BÁO CÙNG TÔI

Ảnh ngẫu nhiên

10556496_281334708733955_4477393019484531008_n.jpg Khi_toc.swf Thayjpg.jpg Mungngaynhagiaovietnam2011guinhungtinnhansmsvaloichuchaytoithaycogiao_1.jpg Trai_ban_Byooc__ga_Khuoi_Slao.swf Loonapix_1367949808297244088.jpg Loonapix_1367950267381084887.jpg Loonapix_1367950503381023095.jpg TINH_CA_TAY_BAC_Buiduc_Hanh_Guitar_Hawaii_CAODZAN.swf Muong_Lo_que_emHoa_ban_Tay_Bac.flv CON_YEU_ME.swf Chucmungngay83.swf Video_Clip_Yeu_Em_Bang_Tat_Ca_Nhung_Gi_Anh_Co_Lam_Chan_Huy_Video_Clip___302280.flv Nhung_cau_danh_ngon_hay_nhat_ve_cuoc_song__YouTube.flv Nhung_Cai_Lon_Nhat_Cua_Doi_Nguoi__YouTube.flv Nam_Quy_Luat_Don_Gian_De_Song_Hanh_Phuc__YouTube.flv Ba_dieu_gia_tri_trong_cuoc_song__YouTube.flv

LIÊN KẾT GIÁO DỤC

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thời tiết

Thủ đô Hà Nội
Ha Noi

Cố đô Huế
Co Do Hue

Tp Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh

Góc Thư giãn

LIÊN KẾT website

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Liên kết 7kho

    Đồng hồ 2012- Quà của thầy Yên

    Âm nhạc của tôi và bạn

    THÀNH VIÊN VIOLET

    Khúc xuân


    Tác phẩm- TRẢ LẠI TÊN CHO EM

    Liên kết các thư viện

    CUỘC SỐNG

    Núi đôi - Một bài thơ hay của Vũ Cao

    Nui_doi1.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Trọng Khái (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:41' 12-01-2011
    Dung lượng: 79.4 KB
    Số lượt tải: 75
    Mô tả:

     

    Núi đôi - VŨ CAO


    Bảy năm về trước em mười bảy
    Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
    Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa
    Bữa thì anh tới bữa em sang.

    Lối ta đi giữa hai sườn núi
    Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
    Em vẫn đùa anh sao khéo thế
    Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.
    .
    Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
    Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
    Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
    Ai ngờ từ đó mất tin nhau.
    .

    .
    Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
    Chiến đấu quên mình năm lại năm
    Mỗi bận dân công về lại hỏi
    Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.

    Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
    Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
    Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
    Sương trắng người đi lại nhớ người.

    Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
    Trung du làng nước vẫn chờ trông
    Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
    Em vẫn đi về những bến sông.
     .
    .

    Náo nức bao nhiêu ngày trở lại

    Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
    Hành quân qua tắt đường sang huyện
    Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi.

    Mới đến đầu ao tin sét đánh
    Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
    Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
    Em sống trung thành chết thuỷ chung.

    Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
    Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
    Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
    Núi vẫn Đôi mà anh mất em.
    .
    Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
    Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
    Mấy năm cô ấy làm du kích
    Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

    Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
    Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
    Sân biến thành ao nhà đổ chái
    Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.

    Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
    Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
    Nứa gianh nửa mái lều che tạm
    Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau.

    Anh nghe có tiếng người qua chợ
    Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
    Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
    Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

    Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
    Oán thù còn đó anh còn đây
    Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
    Đã chết vì dân giữa đất này?

    Ai viết tên em thành liệt sĩ
    Bên những hàng bia trắng giữa đồng
    Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
    Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.
    .

    .
    Anh đi bộ đội sao trên mũ
    Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
    Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
    Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

     

    .

    .Bình bài thơ Núi đôi

    Bài thơ là nỗi xúc động chân thực của tác giả về một câu chuyện có thật ở vùng Xuân Dục trong kháng chiến chống Pháp. Giọng thơ tự sự đậm đà phong vị dân gian làm đẹp thêm mối tình kháng chiến, đồng thời tạo xúc động trước sự hy sinh của người con gái anh dũng.

    Mối tình nên thơ gắn với hoài niệm về thời đẹp nhất của tuổi thanh xuân:

    Bảy năm về trước em mười bảy

    Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

    Tác giả dẫn dắt vào không gian trong veo hương đồng nội, với những địa danh thân thương gắn kết đôi bạn trẻ: Xuân Dục, Đoài Đông, Núi Đôi…giản dị và tự nhiên tạo thành thương nhớ. Tình người, tình đất, tình quê lồng vào nhau:

    Em vẫn đùa anh sao khéo thế

    Núi chồng núi vợ đứng song đôi

    Câu chuyện tình hết sức riêng tư, chân thật đã được gắn vào với hoàn cảnh quê hương ngày giặc chiếm đã đan cài vào đó bao tâm trạng uất nghẹn căm hờn và lo lắng bồn chồn của người dân núi Đôi. Cảm xúc này từng được diễn tả trong bài Đất Nước (1955) của Nguyễn Đình Thi:

    Những đêm dài hành quân nung nấu

    Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

    Từ tâm trạng chàng trai trong bài thơ, ta thêm hiểu vẻ đẹp tâm hồn anh bộ đội trong kháng chiến chống Pháp luôn thắm đượm ân tình với quê hương, người thân. Tâm hồn người chiến sĩ luôn tồn tại một không gian hoài niệm, nhung nhớ đến cháy lòng – khơi lên tình cảm yêu thương và căm hờn trong lòng chiến sĩ, làm rõ vẻ đẹp giàu chất nhân văn. Lời dẫn chuyện của Vũ Cao tái hiện nguyên vẹn không khí những ngày kháng chiến, đánh thức bao cảm xúc của một thời bi hùng mà cũng ắp tràn thương nhớ của bao người. Sự hiện diện thường trực của hình tượng núi Đôi xuyên suốt những ngày chiến đấu là cách cắt nghĩa trọn vẹn ân tình với quê hương và thổi bùng ngọn lửa tình yêu mãnh liệt với cô gái Xuân Dục. Bao tâm trạng được diễn tả: khắc khoải ngóng đợi, “trăm nghìn căm uất”, náo nức ngày trở lại. Tự thân những lời thơ đã làm đẹp thêm bao nhiêu bóng hình người yêu trong tâm tưởng người chiến sĩ:

    Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm

    Em vẫn đi về những bến sông?

    Chính vì vậy mà nỗi đau xót sẽ làm người đọc càng day dứt, như một sự tích tụ để vỡ oà trước sự mất mát. Hơn bao giờ hết, người đọc nhận ra tội ác của kẻ thù một cách cụ thể đến từng số phận: bắt đầu từ sự xuất hiện của chúng là một dự cảm mơ hồ, tiếc nuối:

    Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn

    Đâu ngờ từ đó mất tin nhau

    để rồi trở thành sự ngóng đợi thắc thỏm: sương trắng người đi lại nhớ người. Mong đợi cháy bỏng đến khi thành hiện thực thì lại phải đối mặt với nỗi đau lớn nhất “giặc giết em rồi, dưới gốc thông”. Nỗi đau vụt đến quặn xé đã được diễn tả xúc động:

    A nh ngước nhìn lên hai dốc núi

    Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

    Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

    Núi vẫn đôi mà anh mất em!

    Hình ảnh kỷ niệm yêu thương đã vụt biến thành chứng tích đau thương, nỗi đau rất thật ấy không của riêng ai bởi không chỉ là sự mất mát của anh mà là của cả quê hương, bởi “em sống trung thành, chết thủy chung”. Đó không hề là cảm giác bi lụy mà mang tính chất bi kịch, giúp người đọc ý thức được giá trị của chiến thắng. Nỗi đau càng lớn hơn khi được kể lại, nhưng sự vô tình ấy lại làm ta nhận rõ về người liệt sĩ - người yêu của anh chiến sĩ:

    Mấy năm cô ấy vào du kích

    Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng?

    Mỗi lời kể như dao cứa vào tim, nhưng lạ thay lại làm ta thêm yêu mến, trân trọng người con gái sắt son anh dũng. Nỗi đau riêng hoà vào nỗi đau chung, ta hiểu thêm hơn về bản chất của tình yêu trong kháng chiến, với những con người bình thường mà cao cả đã vượt lên tình riêng, sẵn sàng cống hiến tất cả cho quê hương. Hình tượng người con gái Núi Đôi còn để lại suy ngẫm sâu sắc về sự hy sinh. Đó không phải là mất mát bình thường mà có khả năng biến đau thương thành sức mạnh. Bóng hình người con gái hoà vào bóng hình quê hương, thúc giục tâm tư của người còn sống, thành ý chi và quyết tâm vượt lên bất hạnh, hồi sinh sự sống. Với ý nghĩa đó, cô gái núi Đôi đã thành biểu tượng bất tử:

    Cha mẹ dìu nhau về nhận đất

    Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

    Nứa gianh nửa mái lều che tạm

    Sương nắng khuây dần chuyện xót đau

    Tình yêu bị kẻ thù hủy hoại nhưng không hề suy xuyển, mà hoà thành tình yêu lớn lao với quê hương, xóm làng, cha mẹ…Quê hương hồi sinh, đau xót nguôi ngoai nhưng không đem đến với con người sự quên lãng mà đã nhân lên thành tình cảm cách mạng, thành lời thề thiêng liêng trước Núi Đôi:

    Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ

    Oán thù còn đó, anh còn đây

    Và: Nhớ nhau anh gọi: em, đồng chí

         Một tấm lòng trong vạn tấm lòng

    Nhân vật trữ tình trong bài thơ đã hoá thân vào “vạn tấm lòng”, tình cảm nâng tầm thành tình cảm cách mạng. Tác giả không hề mô tả nước mắt trước bi kịch mà hình dung ra cuộc chiến đấu của người chiến sĩ lấp lánh ánh sáng bất tử của người con gái núi Đôi – sao trên mũ sao sáng dẫn đường, em hoa trên đỉnh núi thơm mãi bốn mùa. Làn hương ấy, vẻ đẹp ấy còn kết đọng mãi trong lòng người, nhắc mãi vẻ đẹp kết tinh từ những ngày chống thực dân Pháp hào hùng để làm nên sức mạnh chiến đấu chống đế quốc Mỹ, hướng về tương lai toàn thắng của quê hương./.

                                                                Trần Hà Nam


    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    HOA BAN DUY THANH

    Quà tặng cuộc sống